Phân tích kỹ thuật Xeon 6900P - Đường về của Intel

Intel-Xeon-6980P-1140x500

Dù sớm bị đối thủ hạ bệ, song Granite Rapids vẫn là một sản phẩm nổi bật của nhà khổng lồ x86.

Một điều chắc chắn không bàn cãi vào lúc này là con chip server mạnh nhất hành tinh đang do AMD nắm giữ. Dựa trên kiến trúc Zen 5 mạnh mẽ cùng tiến trình TSMC N4/N3, EPYC 9005 Turin "đè bẹp" tất cả, từ lứa gà nhà vừa xuất hiện năm ngoái cho tới cựu thù x86 lẫn cả các đại diện ARM (trên server). Nhưng đây chỉ là phần nổi của tảng băng. Đứng đầu như thế không có nghĩa AMD hoàn toàn có thể ăn no ngủ kỹ mà không phải đề phòng gì đối thủ.

Xeon 6900P hay Granite Rapids có thể đã thua trước Turin. Nhưng không có nghĩa mọi chuyện đã kết thúc. Trong bài này, chúng ta sẽ phân tích sâu hơn Granite Rapids và nhận định dài hơn về thị trường server cho vài năm tới.

Lược sử thị trường server

Ngày nay khi mà ai ai cũng có thể sở hữu ít nhất một chiếc smartphone, thì có nghĩa ít nhất chúng ta đang có trong tay một chiếc máy tính thu nhỏ, và dĩ nhiên là một con chip xử lý. Kỷ nguyên Internet Vạn vật (IoT) giúp cho công nghệ trở nên gần gũi hơn bao giờ hết, thậm chí kể cả khi người dùng không hiểu gì về công nghệ. Nhưng cái nền tảng của IoT, ngoài hạ tầng Internet, thì không thể không có các datacenter hay cụ thể hơn là các server vận hành liên tục 247/365. Thực tế ngay chính ở khoảnh khắc bạn đang đọc những dòng này, thì chúng được cung cấp bởi các server liên tục gửi/nhận dữ liệu tới chiếc PC hay smartphone của bạn.

Trước khi Internet ra đời, mainframe là những cỗ máy khổng lồ chứa hầu hết mọi dữ liệu

Nửa thế kỷ trước, lúc Internet chỉ mới ở dạng phôi thai trong phòng lab, dĩ nhiên không có cảnh người người ngồi cắm mặt vô cái điện thoại để xem tin tức hay giải trí. Nhưng nhân loại đã có máy tính mà cụ thể hơn là những cỗ máy đơn lẻ được liên kết tương đối rời rạc với nhau. Chúng ta có băng VHS, đĩa mềm, đĩa cứng, đĩa quang, máy in, thậm chí cả máy fax để trao đổi dữ liệu qua đường điện thoại. Nhưng quan trọng hơn cả là những chiếc mainframe khổng lồ giữ vai trò "trái tim" của các công ty lúc bấy giờ. Những gì quan trọng nhất sẽ được lưu trữ, trao đổi và xử lý trên những cỗ mainframe ấy. Thời gian đầu do chưa có Internet nên mainframe chủ yếu hoạt động trong mạng nội bộ. Khi Internet dần phổ biến rộng rãi thì cái tên server được sử dụng nhiều hơn. Ngày nay, mainframe trở thành một từ "cổ" hiếm khi được dùng.

Khung cảnh iconic khi Neo gặp gỡ Architect, lý giải toàn bộ sự tồn tại của Matrix

Ngoài lề một chút nếu bạn có từng xem series Matrix (không tính phần 4 nhảm shit), thì mainframe được sử dụng rất nhiều trong các đoạn thoại, mà ý nghĩa và vai trò thực tế chính là server mà chúng ta đang dùng trong hôm nay. Khi nào bạn mở mạng để vào Internet xem cái này tìm cái kia thì khi đó cũng tương đương như bạn đang "cắm vào" hệ thống (plug into the matrix).

Nhưng nhắc lại vấn đề mainframe/server từ "xa xưa" cho tới "hiện tại" chủ yếu để bạn thấy, dù ở bất kỳ giai đoạn nào của ICT, một cỗ máy tính mạnh mẽ làm việc bền bỉ 247/365 là điều bắt buộc. Bất kể là bạn dùng smartphone, PC, game console, smart TV, smart car... cứ hễ bạn cần plug into the matrix, bạn phải có server để đáp ứng (server - người phục vụ). Có thể nói IoT sẽ không thể tồn tại mà không có server. Ngay cả khi bạn làm phần mềm hay ứng dụng hay dịch vụ cloud thì cái cốt yếu bắt buộc phải có vẫn là server hay hạ tầng ICT. Không có chúng làm sao VNeID hay Shopee hay Tiktok tồn tại được?

Không có server thì app tiên tiến tới đâu cũng không thể làm việc

Intel và Xeon

Bạn có thể sẽ có chút ngạc nhiên, nhưng những con chip Xeon lại không phải dòng sản phẩm lâu đời nhất của công ty này. Thực tế Intel tồn tại được 30 năm mới bắt đầu làm ra Xeon, vốn là chip server dựa trên x86. Tất nhiên không thể không nhắc tới Itanium hay IA-64 ra đời sớm hơn Xeon một thập kỷ. Nhưng Itanium đã "chìm nghỉm" từ lâu nên không cần nói nhiều. Chỉ có một chi tiết là Itanium được Intel và HP cùng hợp tác như một nỗ lực để chen chân vào mảng mainframe nơi mà "cây đa cây đề" như IBM, Sun (Oracle mua lại), Siemens, Fujitsu, DEC, NEC... ngự trị.

Từng là tượng đài công nghệ nhưng IBM ngày nay hết sức mờ nhạt

Chuyện khôi hài ở đây là dù ban đầu Intel không định phát triển x86 "rực rỡ" như ngày nay, nhưng "sự cố" x86-64 do AMD khởi xướng đã reset lại toàn cõi Matrix. Những người khổng lồ mainframe lần lượt gục ngã. Ngày nay, thị phần server không-phải-x86 chỉ nhỉnh hơn 10%. Đáng nói hơn là cả những đối thủ không làm ra chip x86 như Sun hay IBM cũng có các sản phẩm dựa trên x86. Điều này cho thấy x86 gần như "độc bá" toàn cõi server. Nếu lướt qua danh sách siêu máy tính TOP500 mỗi năm 2 kỳ, thực sự khó tìm được hệ thống nào không có chip x86 (không Xeon thì cũng là EPYC/Opteron).

Danh sách TOP500 mới nhất với phần lớn hệ thống siêu máy tính dùng chip x86

Nói như thế để thấy, tuy là kẻ tới sau trong cuộc chơi mainframe/server, nhưng x86 đã áp đảo hoàn toàn các đối thủ như thế nào. Trong đó, Xeon có những tháng năm "rực rỡ" nhất khi AMD gần như biến mất khỏi thị trường (Opteron không có sản phẩm nào mới nữa). Không có cạnh tranh, Xeon Scalable được thể "làm mưa làm gió" mãi tới khi EPYC ra đời. Nhưng đây cũng là lúc Xeon đạt giá trị cực đại trong đồ thị hàm số của mình. Mà sau cực đại dĩ nhiên là đồ thị đi xuống...

Thống kê và dự báo thị phần chip server tới 2025 của IDC

Thị phần các hãng sản xuất server đứng đầu thế giới. Nguồn: Statista

Sự đi xuống này tất nhiên bắt nguồn từ ban lãnh đạo. Nhà dột từ nóc. Như mình đã phân tích từ trước, các xáo trộn từ nhân sự cấp cao cho tới năng lực sản xuất chip. Cả Xeon nói riêng và Intel nói chung cùng tụt lùi. Từ Cascade Lake (14 nm) trở đi, các thế hệ Xeon sau đó không chỉ ra mắt muộn màng mà còn thua kém EPYC. Thậm chí còn thua cả AmpereOne của Ampere mới "chập chững vào đời". Intel thực sự cần phải "lột xác" nếu không muốn trở thành một IBM hay Nokia thứ hai.

Granite Rapids, đi xa để trở về

Trước khi nói sâu về kỹ thuật, chúng ta cần phân biệt một vài vấn đề về thương hiệu và phân khúc thị trường. Thực tế Xeon 6 có tới 2 dòng sản phẩm khác nhau, 1 dòng sử dụng nhân P-core Granite Rapids và dòng còn lại là nhân E-core Sierra Forest. Đây là điểm nhấn quan trọng với Intel vì từ nay họ sẽ có 2 sản phẩm đánh vào 2 nhóm khách hàng server khác nhau (1 bên cần hiệu năng cao, 1 bên cần hiệu quả kinh tế cao). Trước đây Xeon chỉ có duy nhất 1 kiến trúc dùng cho tất cả nên không thể "phủ" hết thị trường. Hướng đi này có thể nói tương tự AMD khi vừa có sản phẩm Zen 4/5 lẫn Zen 4c/5c nhắm vô nhiều đối tượng khách hàng.

Lộ trình Xeon của Intel cho tới 2025 gồm 2 dòng P và E

Thực tế Xeon 6 không chỉ có 6900P hay 6700E, đây chỉ là 2 dòng sản phẩm đầu tiên xuất hiện trong 2024. Sang năm sau, Intel sẽ bổ sung thêm các model 6900E, 6700P, 6500P, 6300P. Có thể thấy con số không nói lên bản chất con chip mà là cái đuôi P hay E tương ứng với việc chúng xài P-core hay E-core để tính toán. Trong hôm nay, chúng ta chỉ nói về 6900P mà cụ thể là Granite Rapids.

So với thế hệ trước, Granite Rapids thực sự có cải thiện ấn tượng

Được xây dựng trên P-core, cụ thể là Redwood Cove, Granite Rapids được đặt trọng tâm dành cho server cao cấp, vốn để thay vị trí mà Sapphire Rapids/Emerald Rapids đã/đang nắm giữ. Dựa trên con số "thô" mà nói, Granite Rapids mạnh tối thiểu gấp đôi và có mức hiệu năng/tiêu thụ điện tối thiểu gấp rưỡi Emerald Rapids. Đây là mức cải thiện rất ấn tượng, nếu bạn so sánh với các đối thủ khác, hầu như rất khó đạt được chênh lệch nhiều đến thế giữa 2 thế hệ sản phẩm chỉ cách nhau 1 năm trời.

Chiplet nhưng theo cách của Intel

Một xu thế gần như không thể tránh trong 2024 (trở về sau) này là nếu bạn muốn làm một con chip bự, bạn phải dùng chiplet/MCM. Không phải bạn không thể làm với thiết kế đơn chip (monolithic) nhưng kích thước càng lớn thì hiệu suất bán dẫn càng giảm đồng nghĩa với chi phí rất cao và rất khó để đạt sản lượng lớn. Và nếu kích thước không đủ lớn thì không đủ sức mạnh để cạnh tranh. Nên dù muốn hay không, chiplet là con đường duy nhất cho Intel lúc này nếu muốn tồn tại ở mặt trận server.

Các phiên bản Granite Rapids khác nhau dựa trên số die compute mà nó sở hữu

Tuy vậy giữa AMD và Intel vẫn luôn có khác biệt trong cách làm chiplet. Nếu hướng đi của AMD là "chẻ" die CCD ra thật nhỏ rồi liên kết tất cả bằng một die I/O thật bự ở giữa, thì Intel hoàn toàn ngược lại. Trong con mắt Intel, die compute (tương tự CCD) bắt buộc phải bự và luôn ở giữa, die I/O có thể "chẻ" nhỏ và nằm ở xung quanh. Cách làm này có ưu điểm là cho phép liên kết được được nhiều socket CPU trên cùng một server hơn (có thể đạt cấu hình 8P). Còn hướng đi của AMD một server chỉ gắn tối đa được 2 CPU (cấu hình 2P). Song thực tế mà nói các cấu hình 4P/8P có thị phần rất nhỏ. Ngày nay đa số các trung tâm dữ liệu chủ yếu xài 2P vì chi phí đầu tư và vận hành thấp hơn khá nhiều. Đặc biệt nếu cần trang bị để gắn thêm GPU hay bộ tăng tốc AI thì nhiều socket CPU cũng không để làm gì.

Xeon 6900P trên lý thuyết cho phép đạt cấu hình 8P (8S)

Lại nói về die compute, Intel vẫn thích làm die bự hơn die nhỏ như AMD. Bên AMD ngoại trừ trường hợp Zen 5c có 16 nhân/CCD ra thì die Zen 5 chỉ có 8 nhân/CCD. Nên model Turin thấp nhất chỉ có 8 nhân (EPYC 9015). Nhưng Intel không thế, thực tế Granite Rapids có tới 2 die compute khác nhau. Trong đó phiên bản "thấp nhất" LCC có tới 16 nhân, còn bản "phổ thông" HCC lên tới 48 nhân! Nhưng vì "thích" die bự nên nhược điểm là chúng sẽ dễ bị lỗi nhiều hơn. Điều này dẫn tới việc phiên bản 2 die compute XCC chỉ có 86 nhân (2x 48 - 10) chạy tốt. Và bản cao cấp nhất 3 die compute UCC còn lại 128 nhân (3x 48 - 16). Túm lại lựa chọn nào cũng có 2 mặt.

Die compute và die I/O

Intel không chỉ khác AMD trong tư duy chiplet, mà còn khác cả tư duy về cấu trúc của từng die. Trong khi CCD của AMD thuần tuý chỉ có nhân xử lý và bộ đệm, thì die compute bên Intel có thêm cả trình điều khiển bộ nhớ (IMC). Bên cạnh đó do số lượng nhân xử lý rất nhiều (tối thiểu 16 nhân), Intel sắp xếp chúng theo dạng lưới (mesh) liên kết như ma trận. Có điều công ty này không công bố diagram die compute nên không rõ cấu hình cụ thể như thế nào (4x4 hay 8x2 hay 16x4 hay 8x8).

Song điểm cần nhớ là từng die compute sẽ nhận trực tiếp dữ liệu từ bộ nhớ RAM thông qua IMC có sẵn, chứ không phải thông qua die I/O như trường hợp của AMD. Do đó về lý thuyết, Intel sẽ chủ động được vấn đề bộ nhớ tốt hơn AMD (tốc độ truy cập RAM bên AMD bị lệ thuộc vào tốc độ Infinity Fabric). Việc Intel hỗ trợ bộ nhớ MRDIMM có băng thông tới 8800 MT/s là kết quả của thiết kế này (sweet spot của AMD vẫn là DDR5-6000). Die compute Granite Rapids được sản xuất trên tiến trình Intel 3 gần như là mới nhất của Intel lúc này (Intel 18A đang dùng để sản xuất Clearwater Forest nhưng là sản phẩm của năm sau).

Cấu tạo của die compute và die I/O

Với die I/O, trừ việc không có IMC như bên AMD thì chức năng còn lại tương tự. Những giao tiếp nào "đi ra ngoài" CPU đều do 2 die I/O nắm giữ (UPI, PCIe, CXL...). Cũng vì vai trò đơn giản hơn nên die I/O được sản xuất trên tiến trình Intel 7 (hoặc 10 nm).

Khác biệt cuối cùng giữa Intel và AMD (đúng hơn là TSMC) là các liên kết die được thực hiện qua các cầu EMIB do Intel tự phát triển, chứ không phải interposer. Không rõ liệu Gaudi 3 đang dùng công nghệ liên kết die nào nhưng nhiều khả năng cũng là interposer vì 2 thế hệ Gaudi trước cũng được sản xuất bởi TSMC. Chúng ta sẽ có bài nói sâu hơn về 2 công nghệ đóng gói chip này trong dịp khác.

MRDIMM, CXL 2.0 và mô hình bộ nhớ trên Xeon 6

Một trong những nét có thể nói là độc nhất của Granite Rapids mà chưa từng con chip nào khác có là MRDIMM. Vì đây là chuẩn bộ nhớ mới nên tên gọi của nó chưa được thống nhất giữa các hãng, chúng ta cứ tạm gọi là bộ nhớ DIMM Chồng Rank (Multiplexed Rank DIMM). Trong đó khác với DIMM truyền thống chỉ có 1 rank đang được dùng phổ biến hiện nay với đường dữ liệu 64-bit, MRDIMM "chồng" 2 rank lại với nhau cho phép tải cùng lúc tới 128-bit.

MRDIMM không chỉ cho băng thông cao hơn mà dung lượng trên từng DIMM cũng lớn hơn

Theo tiêu chuẩn JEDEC, MRDIMM sẽ có 3 phiên bản Gen 1, 2 và 3 với băng thông lần lượt là 8800, 12800 và 17600 MT/s. Loại MRDIMM được hỗ trợ trên Granite Rapids là Gen 1. Ngoài vấn đề tăng cường băng thông ra, MRDIMM còn cho phép "nhồi nhét" được nhiều chip nhớ hơn trên cùng một khe DIMM. Vì cơ bản mà nói, MRDIMM giống như 2 thanh DDR5 nhưng "nhét" chung 1 slot DIMM. Đây là giải pháp cho những ứng dụng cụm server yêu cầu nặng về bộ nhớ RAM, bên cạnh những ứng dụng thông thường khác.

Được biết AMD cũng đã công khai hỗ trợ MRDIMM ở hội nghị MemCon 2023, song trên sản phẩm cụ thể nào thì chưa rõ.

Cách thức CXL hoạt động

Một số sản phẩm nâng cấp bộ nhớ RAM dựa trên chuẩn CXL

Và nói tới MRDIMM thì không thể không nhớ tới CXL hay Compute Express Link. Về cơ bản đây là giải pháp giúp cải thiện hơn nữa khả năng lưu trữ của server dựa trên giao tiếp PCIe, mà RAM là chủ yếu. Với người dùng PC chuyện có thật nhiều RAM có thể không quá quan trọng nhưng ở server mà nói, chi phí mua RAM đôi khi gấp mấy lần chi phí sắm CPU! Với CXL, "dân chơi" RAM hoàn toàn có thể sắm thêm một đống card PCIe hay thậm chí là nguyên một cụm rack chỉ để... cắm RAM! Nhưng điều tuyệt vời nhất ở CXL là loại RAM mà những card/rack này chạy không bắt buộc phải cùng loại được CPU hỗ trợ. Bạn có thể vừa xài cả DDR5 trên DIMM lẫn DDR4 trên card CXL và mọi thứ vẫn ổn, miễn thứ bạn cần là dung lượng chứ không phải tốc độ.

Ngoài MRDIMM và CXL 2.0 ra, mô hình trao đổi dữ liệu trên Granite Rapids cũng là yếu tố đáng cân nhắc. Vì đây không thuần tuý là 1 con chip thống nhất mà nó được "ghép" lại từ 1-3 die compute khác nhau. Mà mỗi die hoàn toàn "có tư cách" làm 1 CPU riêng (gồm cả nhân x86 lẫn IMC). Trong khi bên EPYC các nhân x86 cần phải thông qua die I/O để lấy dữ liệu từ RAM thì mỗi die Granite Rapids hoàn toàn chủ động việc này. Die compute nào cũng có 4 kênh DDR5 của riêng mình.

Xeon 6900P hoạt động tối ưu nhất ở chế độ Cluster

Từ đây nảy sinh vấn đề nếu 1 nhân x86 ở die A cần dữ liệu từ cache hay RAM ở die B hoặc C thì nó sẽ mất nhiều thời gian hơn so với lấy "tại nhà". Do vậy để đảm bảo tối ưu nhất về tốc độ trao đổi dữ liệu, Intel có 2 mô hình truy cập bộ nhớ gồm HEX và SNC3 (mặc định). Trong đó ở mô hình HEX, tất cả 3 die compute được xem như 1 thể thống nhất và không phân biệt dữ liệu được lấy từ đâu. Còn với mô hình SNC3 (sẵn trong BIOS), con chip được xem là 3 cụm (cluster) xử lý riêng biệt và mỗi cụm sẽ ưu tiên lấy dữ liệu từ die của mình trước khi "alo hỏi thăm" die lân cận.

Kiến trúc và hiệu năng

Khi Granite Rapids vừa ra mắt và bị Turin hạ bệ chỉ vài tuần sau đó, nhiều người đã chê bai Intel. Song trong quan điểm của mình, sự thua cuộc này là điều hoàn toàn có thể đoán trước được. Nếu Granite Rapids không thua Turin thì đó mới là chuyện thực sự đáng ngại cho AMD. Tại sao?

Granite Rapids sử dụng kiến trúc Redwood Cove cùng loại với Meteor Lake

Granite Rapids không được xây dựng trên kiến trúc P-core mới nhất của Intel mà là phiên bản cũ hơn, Redwood Cove. Đây là kiến trúc dùng trên chip Meteor Lake ra mắt cuối năm ngoái của công ty này. Lunar Lake lẫn Arrow Lake vừa ra mắt gần đây dùng kiến trúc mới hơn là Lion Cove. Giữa 2 kiến trúc này có nhiều khác biệt song điểm cơ bản nhất là Redwood Cove chỉ có 6-wide decoder, còn Lion Cove là 8-wide decoder. Kiến trúc Zen 5/5c vừa ra mắt của AMD cũng là 8-wide decoder nên có thể nói Lion Cove mới "ngang trình" Zen 5. Còn Redwood Cove nói suông là... "dưới trình".

Kiến trúc Zen 5 trên Turin thực sự mạnh hơn Redwood Cove rất nhiều

Bởi vậy Granite Rapids thua Turin là chuyện hiển nhiên. Còn không thua thì AMD mới là người phải... hết hồn! Và nhìn chung dù không công khai nói ra nhưng cả Lisa Su lẫn Pat Gelsinger đều hiểu rõ cuộc chơi hơn ai hết. Để có thể thắng Turin, ít nhất lứa Rapids thế hệ sau phải dựa trên Lion Cove. Nhưng cho tới nay, cả AMD và Intel cùng hết sức kín tiếng về dòng server tiếp theo của mình. Thứ duy nhất chúng ta "hóng" được tới lúc này là Intel đã có chip Panther Lake, với nhân P-core Cougar Cove. Còn cụ thể là gì thì tất cả đều là ẩn số.

Quay lại Granite Rapids, dù hiệu năng thua kém Turin, song nó vẫn làm được một điều quan trọng nhất là mạnh hơn Genoa (EPYC 9004). Có thể nói với kiến trúc 6-wide decoder, lãnh đạo Intel hoàn toàn không mong đợi Granite Rapids sẽ so găng được với Turin. Nhưng vấn đề trước hết là công ty này vẫn cần khẳng định sự tồn tại trên mặt trận server, vì đấy là nơi mà Intel đã "đạp đổ" những tượng đài khác như Sun hay IBM. Granite Rapids nhìn theo một cách khác, cũng tương tự Meteor Lake ra đời trước đó - dù không trội hơn đối thủ nhưng là bước ngoặt để "tìm lại đường về" cho chính mình...

Nhận định

Những năm vừa qua là giai đoạn "phía sau đỉnh đồi" trong đồ thị hàm số Intel. Liệu công ty này đã "chạm đáy cực tiểu" trong 2024 này chưa thì chưa thể nói rõ. Song không thể phủ nhận là nhà khổng lồ x86 dưới triều đại Pat Gelsinger đang liên tục thay đổi để "tìm lại chính mình".

Sapphire Rapids và Ponte Vecchio là 2 thứ kéo Intel thụt lùi

Giai đoạn 2022 trở về "kỷ nguyên" 14 nm là lúc Intel gần như không có sản phẩm gì nổi trội. Sapphire Rapids do Raja Koduri phát triển đúng nghĩa là quả bomb "xịt" khi được công bố hồi 2019 nhưng phải tới tận 2023 mới xuất hiện. Emerald Rapids ra mắt ngay sau đó gần như chỉ để "vá víu" những sai lầm mà Sapphire Rapids để lại. Nhìn một kiểu tương quan thì Sapphire Rapids hệt như Bulldozer mà AMD từng chạm phải. Đối thủ của Intel cũng đã phải hết sức chật vật để gỡ gạc lần lượt với Piledriver, Steamroller rồi chung cuộc là Excavator trước khi hồi sinh bằng Zen.

Và tới nay chúng ta có Granite Rapids. Tuy nhanh chóng bị Turin "phế truất" song dùng từ "thất bại" với con chip này thì không chính xác. Thứ có thể xem là điểm yếu lớn nhất của Granite Rapids lúc này chính là giá thành. Intel cần một chiến lược giá hợp lý hơn để tìm lại được sự cạnh tranh trước các đối thủ. Khách quan mà nói hầu như không ai quan tâm anh sản xuất con chip hết bao tiền, mà khách hàng chỉ quan tâm số tiền họ phải bỏ ra. Ví như AmpereOne chẳng hạn. Và so với các yếu tố khác (kiến trúc, hiệu năng, lỗi), giá thành vẫn là thứ dễ "khắc phục" nhất.

Điểm yếu nhất của Granite Rapids là giá thành quá cao

Đây cũng là lý do căn bản tại sao người dùng cần có sự cạnh tranh. Vì vả chăng nếu hoặc Intel hoặc AMD mất đi, thiệt thòi nhất vẫn là khách hàng. Thực tế chúng ta đã "trải nghiệm" điều này lúc AMD gần như phá sản, con chip desktop "xịn xò" nhất hành tinh chỉ có 4 nhân và nó kéo dài liên tục nhiều năm liền cho tới khi Ryzen xuất hiện. Ở mảng khác, NVIDIA gần như thành "độc tôn" khi AMD không còn mặn mà sản xuất GPU cao cấp nữa cho gamer. Ai là người thiệt thòi nhất, tự túi tiền bạn hiểu rõ.

1 thought on “Phân tích kỹ thuật Xeon 6900P - Đường về của Intel

Chia sẻ cảm nhận nhé ^^

Discover more from migovi

Subscribe now to keep reading and get access to the full archive.

Continue reading